Top

Lễ hội người Nùng

Ngày đăng: 24-01-2014, 3:07 pm

Nghiaphat.vn - Tại thời điểm này, người Nùng ở nước ta có khoảng 1 triệu người, sinh sống chủ yếu tại Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, một số ít ở Hà Giang, Lào Cai, và một số đã sinh cơ lập nghiệp ở Tây Nguyên, trong đó Lâm Đồng chiếm phần lớn. Sản xuất chính của bà con là lúa và ngô. Nhưng những bản người Nùng còn rất nổi tiếng với nhiều loại cây ăn quả lâu năm, như quýt, hồng, na.

Lễ hội người Nùng

Lễ hội người Nùng

Do khéo léo, cần cù nên đời sống vật chất của bà con người Nùng nhìn chung khá ổn định. Từ đó, đời sống tinh thần của bà con cũng rất phong phú. Người Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Điệu Sli giao duyên của thanh niên Nùng có thể coi là "danh bất hư truyền”. Trong các lễ hội, nhất là lễ hội xuống đồng (Lồng tồng), bao giờ cũng có màn biểu diễn Sli hết sức hấp dẫn.

Tuy rằng đã di cư và định cư tại nơi mới là Lâm Đồng, nhưng bà con người Nùng tại đây vẫn giữ những tập tục, lễ hội từ miền Đông Bắc đưa vào. Đặc biệt, đó là những tục lệ cổ truyền độc đáo trong những ngày Tết, đầu xuân. Dịp này, hai bên cửa chính mỗi ngôi nhà đều được dán đôi câu đối có nội dung chúc phúc, phát tài. Phía trên cổng dán giấy "li-xi”- có nghĩa là thịnh vượng, phát đạt. Tại nơi ở mới, bà con vẫn thực hiện những lễ hội sau:

- Lễ "Xưởng cồng”: Đó là lễ thờ cúng tổ tiên, tổ chức không cầu kỳ nhưng rất trang nghiêm, vào ngày 25 tháng Chạp hàng năm. Lễ này nhằm tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân khai sinh ra dòng họ, tôn sùng sự nghiệp của tổ tiên đã để lại tiếng thơm cho con cháu sau này, nhắc nhở mọi người trong gia đình phải sống sao cho xứng đáng với các bậc tiền nhân.

- Tục "Gánh nước hoa hồng”: Trong đêm trừ tịch, sau khi cúng giao thừa, các gia đình thức đến khoảng 5 giờ sáng. Họ mang thùng cùng với ba nén hương, vàng mã ra sông, suối gần đó lấy nước. Sau khi đứng giữa trời khấn vái tứ phương, đốt hương, vàng mã bà con múc đầy nước và bẻ vài cành hoa, lộc cho vào thùng mang về. Nước lấy về được để riêng dùng pha trà, làm bánh cúng tổ tiên trong những ngày Tết. Người Nùng gọi tục lệ này là "Gánh nước hoa hồng” với quan niệm sẽ mang sự may mắn, thịnh vượng về cho gia đình trong năm mới.

- Chay tịnh ngày đầu xuân: Ngày mùng một Tết, theo tục lệ, mọi người trong gia đình đều phải ăn chay. Sau khi ăn mặc chỉnh tề, mọi người vái lạy tổ tiên rồi chúc Tết bố mẹ, tiếp đến là những người lớn tuổi, anh chị em trong gia đình.

- Tống bần nghinh phú: Mồng ba Tết là ngày bà con kiêng cữ thận trọng nhất. Khi quét nhà, họ vừa quét vừa khấn "Quỷ nghèo xéo đi, quỷ giàu bước vào” với ý nghĩa xua đuổi sự nghèo thiếu, túng quẫn, rước sự giàu sang, phú quý vào nhà. Đây là một tục lệ độc đáo để cầu mong một cuộc sống đủ đầy, sung túc hơn khi bước vào năm mới.

- Lễ hội xuống đồng (Lồng Tồng): Lễ này thường được tổ chức vào mồng năm tháng Giêng hàng năm, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, người người no ấm. Vào ngày lễ, cả làng kéo nhau ra ruộng từ sáng sớm, nhà nào cũng chuẩn bị mâm cúng có gà luộc, thịt lợn, bánh chưng, hai đĩa xôi nhuộm phẩm màu đỏ và vàng tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng với mong muốn âm dương giao hòa để vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Sau khi tiến hành nghi lễ cúng, mọi người cùng xuống ruộng cày theo nghi thức rồi cùng nhau ăn uống, múa hát.

Hiện tỉnh Lâm Đồng có hơn 10.000 đồng bào Nùng di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc mang theo nhiều phong tục tập quán, nét văn hóa độc đáo vào lập nghiệp tại các xã Phước Cát (huyện Cát Tiên), xã An Nhơn, thị trấn Đạ Tẻh (huyện Đạ Tẻh), xã Tân Hội (huyện Đức Trọng) và huyện Đam Rông…

Còn ở Hà Giang, Lào Cai, Bắc Giang... nơi bà con người Nùng định cư đã từ rất lâu đời, thì có thể coi lễ cúng Rừng là đặc biệt nhất.

Với người Nùng Hà Giang, bà con quan niệm Thần Rừng là một vị thần linh thiêng che chở cho dân làng trong cuộc sống hằng ngày. Hiện tại, nhiều bản người Nùng ở Hà Giang vẫn có một khu rừng cấm riêng, trong khu rừng này, mọi người dân trong bản tuân theo những điều cấm kỵ như: không được chặt cây, lấy củi, nói bậy, săn bắt thú, làm việc xấu, hoặc đại tiểu tiện trong rừng...

Lễ cúng Rừng được bà con nơi đây tổ chức vào ngày 30 tháng Giêng và ngày mùng 2 tháng 7 âm lịch hàng năm. Người ta lập đàn cúng dưới gốc cây cổ thụ nhất trong khu rừng cấm. Lễ vật cúng là lợn, gà, sau khi mổ xong sắp nguyên cả con (chưa qua chế biến) cùng với tiết và nội tạng bày lên mâm cúng. Trên mâm cúng có 12 chiếc bát, 12 đôi đũa và 12 chiếc chén- con số 12 tượng trưng cho 12 tháng trong năm.

Còn ở Bắc Giang, lễ cúng Rừng được tổ chức hai lần trong 1 năm và ở hai địa điểm khác nhau. Lần thứ nhất được tổ chức vào ngày 30 tháng Giêng. Địa điểm tổ chức là khu rừng đầu bản. Lần thứ hai được tổ chức vào ngày 2 tháng 7 (âm lịch). Địa điểm là một khu rừng cấm giữa hai cánh đồng hoặc gò bãi. Lễ cúng Rừng bao giờ cũng được chuẩn bị kỹ càng. Khu rừng cấm được dọn dẹp sạch sẽ, lập bàn thờ dán giấy đỏ. Bàn thờ bày lễ vật kết cấu hai tầng được dựng ở hai gốc cây cổ thụ của rừng cấm - tượng trưng cho cây bố và cây mẹ. Lễ vật để mâm trên (gọi là mâm đất nước), có 1 con gà trống lông đỏ mào lá, một lợn đực đen tuyền (hai con vật này còn sống), bảy chén rượu (chén giữa được kê cao), một bát nước trắng, một đĩa muối trắng, bảy bát cơm, bảy xâu thịt và có một bát thịt tổng hợp - đó là bát bảo hộ đất nước, bảy ngựa giấy đen. Lễ vật mâm dưới (bảo vệ bản làng) gồm có 1 con gà trống (còn sống), 1 miếng thịt lợn, 5 xiên thịt, 5 chén rượu (chén giữa kê cao), 5 bát cơm, 5 ngựa giấy. Những người đi dự hội cúng rừng đều phải đội mũ, chân đi giày hoặc dép, mặc quần áo lành, không được ăn ớt, cơm cháy, không được nói xen tiếng dân tộc khác.

Với Mường Khương (Lào Cai), bà con người Nùng nơi đây cũng tổ chức cúng Rừng hàng năm. Lễ thường được tổ chức ở khu rừng cấm của bản. Cúng hai cây cổ thụ, được coi là "cây bố và cây mẹ”, đồ dâng cúng có mâm đặc biệt "Mâm đất nước”, cúng những người hy sinh bảo vệ đất nước và một mâm nữa cúng người bảo vệ làng bản. Tại lễ cúng Rừng, bao giờ người cao tuổi trong bản cũng nhắc mọi người không được phá rừng, không được thả rông gia súc vào rừng, mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ để rừng ngày một xanh tươi. Sau phần lễ, mọi người cùng ký cam kết bảo vệ rừng, trồng nhiều cây xanh trên những mảnh vườn, triền đồi và thưởng thức men rượu thơm nồng, vui cùng các trò chơi dân gian đậm đà bản sắc dân tộc như: bịt mắt bắt dê, ném còn, đu quay, đẩy gậy, múa gậy, bắn nỏ… Cho tới nay, những bản người Nùng ở Lào Cai vẫn còn giữ được khu rừng cấm chung của cả làng, mọi người đều phải tự giác bảo vệ, không được chặt phá.

Nhìn chung, cùng với ý nghĩa tín ngưỡng thông thường mang đậm nét văn hóa của cộng đồng cư dân gắn với rừng, tục cúng Rừng của người Nùng còn mang ý nghĩa nhân văn hết sức sâu sắc, đó là ý nghĩa giáo dục nhân dân tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống xung quanh con người...

Theo https://daidoanket.vn